Phẫu thuật lõm lồng ngực bẩm sinh cho trẻ kịp thời.

0
152

  Nhiều bố mẹ chủ quan đối với các vết lõm trên lồng ngực trẻ vì nghĩ đó là do trẻ bị suy dinh dưỡng mà không nghĩ đó là một dấu hiệu của của căn bệnh nguy hiểm,bệnh lõm lồng ngực bẩm sinh.Vì thế bố mẹ đã để lỡ  thời gian thích hợp nhất đối với phẫu thuật lõm ngực của trẻ.

Lõm ngực bẩm sinh là do biến dạng lồng ngực bẩm sinh do sự phát triển bất thường của một số xương sườn và xương ức làm cho lồng ngực bị lõm vào.

Dị tật có thể được phát hiện ngay sau khi sinh hoặc vào lúc đến tuổi dậy thì. Đa số các trường hợp đều có thể được phát hiện ngay sau sinh.

phac do dieu tri lom long nguc o tre
phác đồ điều trị lõm lồng ngực ở trẻ

Diễn tiến tự nhiên của bệnh không tự khỏi, mức độ lõm ngực có thể giữ nguyên sau khi sinh đến lúc trưởng thành. Tuy nhiên đa số các trường hợp diễn tiến nặng dần,diễn tiến chậm từ sau sinh đến tuổi dậy thì và nặng lên rất nhanh trong giai đoạn dậy thì.

Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng cơ năng

Hầu hết bệnh nhân dung nạp tốt giai đoạn nhũ nhi và lúc trẻ. Nhưng trẻ em lớn sẽ kêu đau vùng biến dạng sụn hoặc đau vùng trước tim sau khi hoạt động gắng sức. Một số bệnh nhân gặp trường hợp hồi hộp đánh trống ngực có lẽ do rối loạn nhịp nhĩ. Khó thở khi hoạt động gắng sức.

 Triệu chứng thực thể

Mõm tim nằm lệch về phía bên trái. Thành ngực phiá trước có vùng lõm sâu hình chén hoặc dẹt rộng. Nghe tim có thể nghe tiếng âm thổi tâm thu của sa van 2 lá.

Đánh giá mức độ nặng của dị tật

Đánh giá mức độ nặng lõm ngực bẩm sinh dựa vào các chỉ số Haller.

Chỉ số Haller là bình thường 2,5; nếu chỉ số Haller Index  từ 3,25 đến 5,5 phản ánh tình trạng lõm ngực nặng cần phẫu thuật tạo hình sớm.

trieu chung cua benh lom long nguc
triệu chứng của bệnh lõm lồng ngực

Thời gian phẫu thuật thích hợp

Bệnh ngày càng rõ nét hơn, xương cứng hơn, khó phẫu thuật hơn và nhiều biến chứng hơn.

Do quá trình phát triển và sự cứng dần của xương và sụn, lồng ngực lõm chỉ có xu hướng nặng dần lên theo thời gian chứ không bao giờ tự giảm đi. Hay nói một cách khác, bệnh chỉ nặng lên chứ không bao giờ tự khỏi. Vật lý trị liệu hoặc các phương pháp không mổ khác hiện chưa chứng minh được là có tác dụng cải thiện bệnh.

Không nên mổ cho trẻ dưới 5 tuổi vì xương còn quá mềm, trẻ còn quá nhỏ, chưa biết vâng lời và tự bảo vệ sau phẫu thuật đặt thanh kim loại trong lồng ngực.

Để trên 20 tuổi thì xương cứng khó phẫu thuật. Càng lớn tuổi càng khó phẫu thuật và có nhiều biến chứng. Tuổi thích hợp nhất để phẫu thuật là 6-18,19 tuổi. Như vậy không nên để muộn sau 20 tuổi, phẫu thuật khó và có nhiều tai biến.

Các phương pháp điều trị

 Phương pháp phẫu thuật Ravich

  • Từ rất sớm, Ravitch đã báo cáo kỹ thuật chỉnh sửa bằng cách lấy bỏ sụn sườn bị quá phát nhưng giữ lại màng sụn và cố định xương ức ở vị trí bình thường.
  • Các sụn sườn sau đó sẽ được phát triển theo các màng sụn để lại và tạo một khung mới giữ xương ức ở vị trí đã được chỉnh sửa và cố định lại. Về sau,phẫu thuật được cải tiến, dùng thêm một thanh đỡ (bar) bằng thép không gỉ để đỡ lấy xương ức.
  • Trong suốt gần 50 năm phẫu thuật Ravitch mới được coi là phẫu thuật duy nhất và chuẩn mực để sửa chữa dị dạng lõm ngực bẩm sinh. Nhưng đây lại là phẫu thuật gây tàn phá, để lại sẹo lớn và một lồng ngực tuy không lõm nhưng cũng không đẹp.

phau thuat nuss thay the phau thuat ravitch trong điều trị
phẫu thuật nuss thay thế phẫu thuật ravitch trong điều trị.

Phương pháp phẫu thuật Nuss

  • Năm 1998, Donald Nuss đã giới thiệu phẫu thuật ít can thiệp (Nuss procedure), luồn 1 hoặc 2 thanh kim loại qua ngực để nâng phần ngực lõm lên. Phẫu thuật Nuss ngày càng được chấp nhận như một phương pháp thay thế cho kỹ thuật của Ravitch.
  • Khi Nuss đưa ra phẫu thuật vào năm 1988, phẫu thuật chủ yếu chỉ dành cho nhi khoa và cũng chỉ dành cho loại lõm ngực cân đối. Nhưng có rất nhiều trẻ em lớn và cả người lớn nữa cũng mắc dị dạng này.
  • Dị dạng cũng không chỉ là đối xứng mà còn có cả lệch trái, lệch phải hoặc dạng lưng lạc đà.
  • Vì vậy mà phẫu thuật Nuss cũng được nhiều phẫu thuật viên trên thế giới cải biên nhiều để có thể áp dụng trên cả trẻ lớn và người lớn, áp dụng cả với những lõm ngực bất đối xứng.

Biến chứng khi phẫu thuật

Biến chứng sớm (xảy ra trong thánng đầu tiên)

  • Tràn khí màng phổi 6.9%
  • Tụ dịch vết mổ 3.3%
  • Di lệch thanh 2.4%
  • Thủng tim

Biến chứng muộn

  • Viêm màng ngoài tim và tràn dịch màng ngoài tim 1.5%
  • Di lệch thanh 1.2%
  • Tràn máu màng phổi 0.9%

Ý KIẾN PHẢN HỒI

Please enter your comment!
Please enter your name here